Áp-xe phổi là một dạng nhiễm trùng ở phổi. Đây là một bệnh đã có từ rất trong trong lịch sử loài người. Các triệu chứng và điều trị của bệnh được mô tả đầu tiên bởi Hippocrates (khoảng 460-375 TCN). Trước thời đại kháng sinh, một phần ba bệnh nhân áp-xe phổi sẽ chết, một phần ba hồi phục và số còn lại sẽ chuyển qua dạng mãn tính, tụ mủ màng phổi hay dãn phế quản. Thời điểm đấy phẫu thuật được xem là điều trị duy nhất có hiệu quả. Theo thời gian, kháng sinh dần thay thế vai trò đó. Bài viết này cung cấp cho các bạn những hiểu biết cơ bản về bệnh này. Bao gồm các triệu chứng, mức độ nguy hiểm, cách điều trị và phòng ngừa.
Áp-xe phổi là sự hoại tử của nhu mô phổi gây ra bởi nhiễm vi khuẩn. Nhiều nhất là vi khuẩn thường, ngoài ra là vi khuẩn lao, vi nấm, kí sinh trùng. Khi đó, trong phổi sẽ hình thành một khoang chứa mủ, là các mô hoại tử và dịch, bao xung quanh là mô phổi bị viêm. Thông thường các vi khuẩn từ miệng hay họng được hít vào phổi và gây nên bệnh.
Một số yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến áp-xe phổi, bao gồm:
Do đó người mắc bệnh nha chu, động kinh, khó nuốt và người nghiện rượu là những đối tượng nguy cơ cao mắc bệnh.
Các triệu chứng của áp-xe phổi khá giống với viêm phổi nhưng kéo dài hơn. Một triệu chứng khá nổi bật là ho ra đàm. Đàm có thể lẫn máu hoặc mủ, mùi hôi. Một số triệu chứng khác cũng thường gặp là:
Nếu không được chữa trị, tỉ lệ tử vong khoảng 15-20%. Ổ áp-xe có thể vỡ sau đó gây ra nhiều biến chứng như:
Đầu tiên các bác sĩ sẽ hỏi bệnh và thăm khám các triệu chứng. Trong đó, tiền căn về phẫu thuật cần gây mê được quan tâm trước tiên.
Các xét nghiệm về máu cho thấy tăng số lượng bạch cầu, thể hiện sự nhiễm trùng.
Nếu đã nghĩ tới áp-xe phổi, mẫu đàm hoặc mủ sẽ được đem đi xét nghiệm.
Các công cụ chẩn đoán hình ảnh cũng được sử dụng, thường là X quang và CT scan. Chúng giúp nhận diện vị trí nhiễm trùng ở phổi. Đồng thời giúp các bác sĩ loại trừ những nguyên nhân khác như ung thư hay khí phế thủng.
Một phương tiện hữu ích khác là nội soi phế quản. Tức là bác sĩ dùng một ống nhỏ có đèn và camera ở đầu. Nhờ đó một mẫu đàm hoặc mô phổi sẽ được lấy ra ngoài. Phương tiện này được sử dụng khi điều trị thuốc kháng sinh không khỏi, nghi ngờ đường thở bị bít tắc hay hệ miễn dịch bị suy giảm.
Nhìn chung áp-xe phổi không lây. Bệnh gây ra chủ yếu bởi vi khuẩn hít phải từ miệng hay họng nên những người nguy cơ cao bị lây có thể phát triển thành bệnh. Trong khi đó những người bình thường có phản xạ ho và các cơ chế bảo vệ của đường hô hấp nên dễ dàng loại bỏ nguy cơ này.
Ngày nay tỉ lệ áp-xe phổi về căn bản đang giảm dần. Tiên lượng của bệnh cũng khá tốt. Trong đó 90% người bệnh được chữa khỏi chỉ bằng kháng sinh và không còn để lại di chứng. Tuy nhiên bệnh cũng có những biến chứng nguy hiểm tới tính mạng.
Tiên lượng sẽ xấu hơn ở những người nguy cơ cao. Đăc biệt là suy giảm miễn dịch, ung thư phế quản gây tắc nghẽn hay nhiễm trùng mắc phải trong thời gian nằm viện. Thậm chí một số báo cáo cho thấy tỉ lệ tử vong lên tới 2/3 ở những trường hợp như vậy. Do đó việc phòng ngừa bệnh rất quan trọng. Khi nghi ngờ bệnh cần tới gặp bác sĩ để được điều trị càng sớm càng tốt.
Tác giả:Bác sĩ Nguyễn Lê Vũ Hoàng
Chuyên khoa: Tai - Mũi - Họng
Uy tín vững chắc, là nền tảng cho sự tin cậy
Uy tín vững chắc, là nền tảng cho sự tin cậy
Uy tín vững chắc, là nền tảng cho sự tin cậy
Uy tín vững chắc, là nền tảng cho sự tin cậy